Huyện Tây Hòa - tỉnh Phú Yên
Những thành tựu

- Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân (giá so sánh năm 2010) giai đoạn 2011-2015 là 9,68%; năm 2016 tăng 7,58% so năm 2015;

- Cơ cấu kinh tế theo ngành chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ:

+ Tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 56,1% năm 2006 giảm xuống còn 42,5% năm 2010 (theo giá cố định1994); chiếm 32,71% năm 2015 và còn 31,14% năm 2016 (theo giá so sánh 2010);

+ Tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng từ 19,8% năm 2006 tăng lên chiếm 21,9% năm 2010 (theo giá cố định1994); chiếm 35,28% năm 2015 và chiếm 34,93% năm 2016 (theo giá so sánh 2010);

+ Tỷ trọng ngành dịch vụ từ 24,1% năm 2006 tăng lên chiếm 35,6% năm 2010 (theo giá cố định1994); chiếm 32,01% năm 2015 và chiếm 33,93% năm 2016 (theo giá so sánh 2010).

- Thu nhập bình quân đầu người (theo giá thời điểm) năm 2005 là 5,5 triệu đồng/người/năm; năm 2010 là 11,6 triệu đồng; năm 2015 là 26,91 triệu đồng; năm 2016 là 27,37 triệu đồng, tăng xấp xỉ 5 lần so năm 2005.

- Tốc độ tăng thu ngân sách giai đoạn 2006-2015 trên địa bàn huyện là 15,05%/năm; trong đó, giai đoạn 2011-2015 là 17,36%/năm; năm 2016 thu đạt 107,967 tỷ đồng, tăng gấp 6,54 lần so năm 2005.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2005-2015 là 5.849 tỷ đồng; trong đó, giai đoạn 2011-2015 là 3.881 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 21%/năm; năm 2016 là 1.390 tỷ đồng.

- Hiện toàn huyện có 47 trường học, tăng 01 trường so năm 2010 (TH tăng 01 trường); tăng 02 trường so năm 2005 (TH tăng 01 trường, THCS tăng 01 trường). Trong đó: mẫu giáo 11 trường; tiểu học 22 trường; trung học cơ sở 11 trường; trung học phổ thông 03 trường (do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý).

Huyện tiếp tục giữ vững đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; hiện có 21 trường đạt chuẩn quốc gia (MN 05, TH 12, THCS 04), tăng 02 trường so năm 2016; tăng 11 trường so năm 2010, tăng 13 trường so năm 2005 (MN tăng 05 trường, TH tăng 6 trường, THCS tăng 02 trường).

 Huyện có 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên Tây Hòa.

- Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề tăng từ 14,5% năm 2005 lên 26,39% năm 2010, lên 40% năm 2015 và lên 46,2% năm 2016. Trong 10 năm 2005-2015, giải quyết việc làm cho lao động 32.815 người, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 331 người; (trong đó giai đoạn 2011-2015 giải quyết việc làm cho lao động 15.659 người, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 240 người); năm 2016 giải quyết việc làm cho lao động 3.100 người, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 55 người.

Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tương ứng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Lao động nông nghiệp giảm từ 78,4% năm 2006 xuống còn 55,3% năm 2010, còn 40% năm 2015 và giảm còn 37% năm 2016; lao động công nghiệp – xây dựng tăng từ 10,3% năm 2006 lên 22,8% năm 2010, lên 26,5% năm 2015 và tăng lên 28,3% năm 2016; lao động dịch vụ tăng từ 11,35% năm 2006 lên 21,9% năm 2010, lên 33,5% năm 2015 và tăng lên 34,7% năm 2016.

- Tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2005-2015 giảm bình quân trên 2%/năm; năm 2005 còn 18,78% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2000-2005), năm 2010 còn 13,25% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010), năm 2015 còn 2,77% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015).

Kết quả điều tra đa chiều hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020:  cuối năm 2016, trên địa bàn huyện có 33.765 hộ; tổng số hộ nghèo 1.924 hộ, tỷ lệ 5,70%, giảm 1,8% so với đầu năm (Tỉnh giao 1,59%; KH của huyện 2%); tổng số hộ cận nghèo 1.926 hộ, tỷ lệ 5,71%, tăng 0,23% so với đầu năm 2016.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (thể cân nặng) giảm từ 25,2% năm 2005 xuống còn 19,6% năm 2010, còn 12,8% năm 2015 và còn 12,3% năm 2016.

- Năm 2005 có 02/11 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (theo chuẩn cũ tại Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07/2/2002 của Bộ Y tế); năm 2011, có 10/11 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (theo chuẩn cũ tại Quyết định số 3447/QĐ-BYT ngày 22/9/2011 của Bộ Y tế). Năm 2016, có 10/11 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế gồm: thị trấn Phú thứ, Hòa Phong, Hòa Tân Tây, Hòa Bình1, Hòa Phú, Hòa Đồng, Sơn Thành Đông, Hòa Thịnh, Hòa Mỹ Tây và Hòa Mỹ Đông (theo chuẩn mới tại Quyết định số 4667/QĐ-BYT ngày 07/11/2014 của Bộ Y tế).

Số trạm y tế có bác sỹ từng bước được nâng lên, năm 2005 có 01 trạm, năm 2010 có 02 Trạm, năm 2015 có 05 Trạm, năm 2016 có 06 Trạm y tế có bác sỹ.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,429% năm 2005 xuống còn 1,193% năm 2010, còn 1,1% năm 2015 và còn 1,08% năm 2016.

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” có bước phát triển. Các danh hiệu văn hóa có phần tăng: năm 2005 có 48,50% số thôn, 100% số cơ quan, đơn vị và 70,78% số gia đình; năm 2010 có 54,28% số thôn, 88,88% số cơ quan, đơn vị và 78%  số gia đình;  năm 2015 có 89% số thôn, khu phố; 40,66% số cơ quan, đơn vị và 85,2% số hộ gia đình; năm 2016, có 93,15% số thôn, khu phố; 75,6% số cơ quan, đơn vị và 93,18% số hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa.

 

Tiếp nhận phản ánh việc thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 03/06/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy

Ông Nguyễn Tấn Chân, Chủ tịch UBND huyện 0905.159.474
Bà Nguyễn Thị Thu Hiện, Trưởng Phòng Nội vụ huyện 0886.559.456
  • Video lấy ý kiến nhạc hiệu Đài truyền thanh huyện Tây Hòa
  • Tây Hòa điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới
  • Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tây Hòa, nhiệm kỳ 2015 2020
  • Đồng Khởi

Thống kê truy cập

logo redesign