Thông tin cho báo chí
Toàn văn phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Đình Cự tại Kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh Phú Yên khóa VI (31/12/2014)

Cổng thông tin điện tử tỉnh Phú Yên trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Đình Cự tại Kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh Phú Yên khóa VI trực tiếp trả lời các câu hỏi và làm rõ thêm nhiều vấn đề mà các đại biểu HĐND tỉnh quan tâm.

- Kính thưa Chủ tọa kỳ họp!

- Thưa các Đại biểu HĐND Tỉnh!

- Thưa đại biểu dự họp!

Hôm nay, kỳ họp thứ 11- HĐND Tỉnh khoá VI đã sang ngày làm việc thứ 3. Theo chương trình các đại biểu đã nghe các báo cáo, tờ trình và đề án của UBND tỉnh; nghe các ngành được UBND Tỉnh phân công giải trình, trả lời chất vấn của đại biểu HĐND Tỉnh và kiến nghị của cử tri. Trước hết, thay mặt UBND Tỉnh, tôi cảm ơn các vị đại biểu, cử tri trong Tỉnh đã tham gia giám sát, góp ý và đề xuất những giải pháp điều hành của UBND Tỉnh nên trong năm 2014 đạt được cơ bản các chỉ tiêu Nghị quyết HĐND Tỉnh đã đề ra.

Qua các đợt tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND Tỉnh, UBND Tỉnh đã nhận được nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến các kỳ họp HĐND Tỉnh. Hầu hết kiến nghị, nguyện vọng của cử tri là chính đáng, tuy nhiên trong điều kiện kinh tế khó khăn, nguồn vốn đầu tư còn hạn chế nên cùng lúc chưa thể giải quyết hết, rất mong các vị cử tri thông cảm. Trong thời gian tới, UBND Tỉnh sẽ cố gắng từ bước xem xét, giải quyết các kiến nghị, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri trên địa bàn.

Tại kỳ họp này, các sở ngành chức năng Tỉnh trong trả lời cử tri và chất vấn có thể chưa đáp ứng được yêu cầu của cử tri và các vị đại biểu HĐND Tỉnh. Với trách nhiệm là Chủ tịch UBND Tỉnh, Tôi xin tiếp thu và trong quá trình điều hành sẽ xem xét chỉ đạo. Hôm nay, tôi chính thức giao nhiệm vụ cho Thủ trưởng các Sở, ban, ngành kiểm tra, đề xuất giải quyết cụ thể các ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan đến thẩm quyền, chức năng quản lý nhà nước của đơn vị, địa phương mình báo cáo UBND Tỉnh chậm nhất là trong tháng 02/2015. Đồng thời, giao trách nhiệm cho các đồng chí Phó Chủ tịch UBND Tỉnh phụ trách theo từng lĩnh vực có liên quan, có ý kiến trước khi lãnh đạo UBND Tỉnh có ý kiến chỉ đạo tiếp theo.

Nhìn chung hầu hết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đại biểu tại kỳ họp lần này đều liên quan đến vấn đề kinh phí. Trong điều kiện kinh tế khó khăn chung của cả nước và của Tỉnh, nhưng với trách nhiệm của mình tôi đề nghị các đồng chí thành viên UBND Tỉnh, Thủ tưởng các Sở, ban, ngành tập trung tham mưu, đề xuất UBND Tỉnh nhiều phương án để huy động, tranh thủ được nhiều nguồn vốn để đầu tư theo mong muốn của bà con cử tri, nhất là đối lĩnh vực giao thông vận tải, tài nguyên môi trường, tài chính…

Về trách nhiệm của UBND Tỉnh sau kỳ họp này, sẽ nghiên cứu kỹ và chỉ đạo điều hành phù hợp hơn trong điều kiện khó khăn hiện nay, tránh tình trạng chỉ đạo dàn trải, chỉ đạo chung chung, thiếu cụ thể, thiếu sự kiểm tra, giám sát. Về vấn đề này, đề nghị HĐND Tỉnh có kế hoạch giám sát cụ thể, kịp thời đề nghị, kiến nghị giải quyết những vấn đề mà các Sở, ban, ngành, địa phương chưa triển khai thực hiện hoặc thực hiện chưa hiệu quả các nội dung mà Nghị quyết HĐND tỉnh sẽ thông qua, để UBND tỉnh để chỉ đạo giải quyết hoặc cùng làm việc để giải quyết tốt hơn. Ở đây, tôi chỉ làm rõ thêm một số vấn đề mà đại biểu HĐND Tỉnh và cử tri quan tâm:

1. Về đề nghị xem xét, hỗ trợ thêm cho thành phố Tuy Hòa trong năm 2015 khoảng 15 tỷ đồng, để thực hiện công tác thu gom rác, bảo đảm vệ sinh môi trường thành phố: Để thành phố Tuy Hòa xứng tầm là đô thị loại II, thì vấn đề đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp là rất cần thiết. Trong thời gian qua, UBND thành phố Tuy Hòa cũng đã có nhiều cố gắng thực hiện, nhưng do nguồn thu ngân sách của thành phố còn khó khăn nên kinh phí chi cho công tác tác thu gom rác, bảo đảm vệ sinh môi trường thành phố còn hạn chế. UBND tỉnh xét thấy đề nghị này của thành phố là hợp lý, đề nghị HĐND tỉnh thống nhất hỗ trợ cho thành phố Tuy Hòa năm 2015 là 15 tỷ đồng, để thành phố Tuy Hòa thực hiện tốt công tác thu gom rác, bảo đảm vệ sinh môi trường thành phố.

2. Về bố trí kinh phí để đầu tư đường nối từ Quốc lộ 19C đến Khu di tích lịch sử Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Phú Yên:

Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, UBND huyện Đồng Xuân và các ngành chức năng có liên quan sớm hoàn chỉnh các thủ tục trình UBND tỉnh cho chủ trương, để sớm triển khai đầu tư tuyến đường này, đảm bảo hoàn thành đưa vào sử dụng phục vụ lễ kỷ niệm 85 năm nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Phú Yên.

3. Về đầu tư xây dựng đền thờ Lê Thành Lương, di tích lịch sử cấp quốc gia:

Đây cũng là một công trình cần thiết phải đầu tư, về quy mô đầu tư đề nghị các ngành chức năng cần nghiên cứu kỹ, để phù hợp với ý nghĩa lịch sử của đền thờ này. Giao Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các ngành chức năng có liên quan chuẩn bị hoàn tất các thủ tục có liên quan tham mưu, đề xuất UBND Tỉnh trước tháng 4/2015, để đề nghị các Bộ, ngành Trung ương xem xét trình Thủ tướng Chính phủ đưa vào kế hoạch vốn đầu tư trung hạn giai đoạn 2016-2020 để triển khai thực hiện.

Đối với một số dự án khác có nguồn vốn đầu tư lớn, đề nghị các ngành chức năng, địa phương cũng phải làm theo lộ trình như thế, nhằm tranh thủ được nguồn vốn kế hoạch trung hạn giai đoạn 2016-2020 của Chính phủ để triển khai thực hiện.

4. Về kinh phí thực hiện Đề án bê tông giao thông nông thôn:

Đề án bê tông giao thôn nông thôn trong năm qua tiếp tục được triển khai thực hiện mạnh mẽ. Từ đầu năm đến ngày 21/11/2014, Sở Giao thông vận tải đã tiếp nhận và cung cấp 81.901 tấn xi măng cho các huyện, thị xã, thành phố thực hiện hoàn thành trên 500km. Hiện nay, các địa phương đăng ký bổ sung thực hiện thêm trong năm 2014 là 217km, tuy nhiên hiện nguồn kinh phí Tỉnh khó khăn. Theo hợp đồng nợ thực hiện Đề án đến hạn phải trả trong năm 2014 là 88,2 tỷ đồng, trong đó tiền mua xi măng là 69,7 tỷ đồng; tiền hỗ trợ cho các huyện, thị xã, thành phố là 18,4 tỷ đồng. Để phong trào bê tông hóa giao thông nông thôn đang phát triển mạnh mẽ ở các địa phương không bị gián đoạn, đề nghị HĐND tỉnh cho chủ trương tiếp tục triển khai thực hiện. Về kinh phí, UBND Tỉnh sẽ tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi để triển khai thực hiện và hàng năm cân đối bố trí một khoản trong ngân sách để trả nợ dần.

5. Về công tác quản lý, kiểm tra, giám sát về chất lượng vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp:

Trong thời gian qua dư luận rất bức xúc về tình trạng sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả, kém chất lượng. UBND Tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Trong thời gian tới, UBND Tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng, địa phương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ hơn nữa để phát hiện xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phân bón, vật tư nông nghiệp giả, không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có vấn đề khó khăn vướng mắc vượt quá thẩm quyền báo cáo, đề xuất UBND Tỉnh chỉ đạo giải quyết.

6. Về hoạt động khai thác thủy sản xa bờ.

Trong những năm gần đây hoạt động khai thác thủy sản xa bờ của Tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, sản lượng khai thác liên tục giảm, nhất là khai thác cá ngừ đại dương. Nguyên nhân chủ yếu là do tàu thuyền công suất nhỏ, trang thiết bị chưa hiện đại, công nghệ khai thác, xử lý, bảo quản sản phẩm lạc hậu; thị trường giá cả bất bênh, không ổn định; bà con ngư dân thiếu vốn để sản xuất, đóng mới, cải hoán tàu thuyền…

UBND Tỉnh đã và đang tập trung chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngành chức năng có liên quan; UBND các huyện, thị xã, thành phố ven biển tập trung triển khai thực hiện có hiệu các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản và Đề án sản xuất cá ngừ đại dương theo chuỗi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Giao Đ/c Lê Văn Trúc - Phó Chủ tịch UBND tỉnh theo dõi chỉ đạo vấn đề này. Với những giải pháp và cơ chế, chính sách nêu trên, hy vọng sẽ tháo gỡ được khó khăn, đẩy mạnh hoạt động khai thác thủy sản xa bờ của Tỉnh trong thời gian tới.

7. Về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

- Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập trung chỉ đạo quyết liệt, số xã đạt các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tăng so với cùng kỳ, nhưng nhìn chung vẫn còn chậm, một số tiêu chí đạt thấp như: tiêu chí về thủy lợi, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ... Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn đầu tư còn hạn chế. Đến đầu tháng 12/2014, theo báo cáo của các địa phương thì có 04 xã đăng ký đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, gồm xã Bình Ngọc, Bình Kiến, Tp Tuy Hòa; xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa và xã Hòa Tân Tây, huyện Tây Hòa. Tuy nhiên, qua kiểm tra, rà soát thực tế thì chỉ có xã Bình Kiến, Tp Tuy Hòa đạt 19/19 tiêu chí; 03 xã còn lại đạt từ 16 tiêu chí trở lên.

 Trong thời gian đến, UBND Tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương huy động mọi nguồn lực để thực hiện, phấn đấu đến năm 2015 có trên 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.

8. Về chỉ số năng lực cạnh tranh của Tỉnh (PCI):

UBND Tỉnh luôn xác định nhiệm vụ cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh PCI là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch, giải pháp (tổ chức các lớp tập huấn, đi học tập kinh nghiệm…) nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của Tỉnh, nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2013, xếp thứ 51/63, tỉnh, thành phố (tăng 1 bậc so với năm 2012).

Trong thời gian tới, yêu cầu các ngành chức năng, địa phương cần quán triệt, xác định rõ mục đích, tầm quan trọng của việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của Tỉnh. Từng cấp, từng ngành, từng địa phương phải đề ra biện pháp để cải thiện các chỉ số thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh PCI ngay tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình và xem đây là một trong những tiêu chí để đánh giá năng lực chỉ đạo, điều hành của Thủ tưởng đơn vị. Đặc biệt, là phải tạo được bước đột phá trong cải cách hành chính, để thu hút đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh.

9. Về đầu tư xây dựng cơ bản:

- Về công tác triển khai đầu tư dự án Nhà máy lọc dầu Vũng Rô: Đến nay, cơ bản đã hoàn thành công tác chuẩn bị triển khai đầu tư dự án. Công ty TNHH Dầu khí Vũng Rô đã tạm ứng trước cho Tỉnh 126 tỷ đồng, để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng dự án và đã tổ chức lễ động thổ vào ngày 09/9/2014, hiện đang thi công sang nền khu vực 134ha, khu vực xây dựng cảng Bãi Gốc (cảng nước sâu).

Về các công trình ngoài hàng rào đang tập trung triển khai đầu tư. UBND Tỉnh đang tích cực làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để trình Chính phủ xem xét về cơ chế ứng trước vốn của Nhà đầu tư, cơ chế hỗ trợ và danh mục hỗ trợ vốn từ Ngân sách Trung ương để triển khai xây dựng các công trình hạ tầng dùng chung cho dự án Nhà máy lọc dầu Vũng Rô và Khu kinh tế Nam Phú Yên theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, UBND huyện Đông Hòa tiếp tục tiến hành công tác kiểm đếm, đo đạc để hoàn chỉnh hồ sơ phê duyệt phương án bồi thường, giai đoạn 2 dự án, khu đất 404ha xây dựng Nhà máy lọc dầu Vũng Rô, chậm nhất trong quý II/2015 phải giao toàn bộ mặt bằng cho nhà đầu tư triển khai dự án.

- Về công tác giải phóng mặt bằng dự án mở rộng Quốc lộ 1 đoạn qua tỉnh Phú Yên:

Đến ngày 09/12/2014, tổng chiều dài đã bàn giao mặt bằng là 86,4Km/86,5Km, đạt 99,8%. Hiện còn 1,7km đã bàn giao mặt bằng cho Nhà thầu nhưng chưa thi công được do người dân cản trở (trong đó: thị xã Sông Cầu còn 0,32km, huyện Tuy An còn 0,5km, huyện Đông Hòa còn 0,84km). Có 05 hộ dân ở thị xã Sông Cầu chưa bàn giao mặt bằng. Huyện Tuy An còn 03 hộ, huyện Đông Hòa còn 24 hộ chưa phê duyệt phương án bồi thường (nguyên nhân là do một số đoạn trùng với dự án ADB3 trước đây, nay thất lạc hồ sơ nên phải mất nhiều thời gian xác minh lại; một số trường hợp nguồn gốc đất phức tạp có tranh chấp; do điều chỉnh tuyến…). Đang triển khai thi công hoàn chỉnh 16/16 khu tái định cư tập trung, đã bố trí tái định cư cho 414 hộ/1.029 hộ, đạt 40,2%.

UBND Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác đặc biệt giúp giải quyết các vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải phóng mặt bằng dự án. Tuy nhiên, đây là dự án có chiều dài qua địa bàn Tỉnh dài, phải thực hiện trong thời gian ngắn, với số hộ bị ảnh hưởng lớn (trên 4.861 hộ phải bồi thường, hỗ trợ), trong đó có hơn 1.029 hộ phải tái định cư nên tiến độ giải phóng mặt bằng có chậm so kế hoạch.

Trong thời gian tới, yêu cầu các ngành chức năng và các địa phương có liên quan tập trung thực hiện quyết liệt để giải quyết dứt điểm các tồn tại, vướng mắc đảm bảo bàn giao toàn bộ mặt bằng dự án cho Chủ đầu tư. Đồng thời, yêu cầu Sở Giao thông vận tải chỉ đạo lực lượng Thanh tra giao thông, phối hợp với cảnh sát giao thông tỉnh tăng cường tuần tra, kiểm soát xử lý nghiêm các đơn vị thi công trên tuyến Quốc lộ 1 đoạn qua địa bàn tỉnh vi phạm an toàn giao thông, nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến.

- Về dự án hầm đường bộ qua Đèo Cả:

Dự án có tổng chiều dài tuyến khoảng 13,5 km, với tổng mức đầu tư 15.604 tỷ đồng, tiến độ thi công từ 12/2012 đến 07/2017. Đến nay, cơ bản hoàn tất công tác giải phóng mặt bằng và bàn giao cho nhà thầu thi công các hạng mục chính. Hiện nay, còn vướng 02 hộ dân chưa di dời, do chưa đồng ý với phương án đền bù; đang rà soát các thủ tục, để tiến hành cưỡng chế. UBND Tỉnh đã chỉ đạo huyện Đông Hòa tập trung giải quyết dứt điểm các trường hợp vướng mắc nêu trên, đảm bảo giao toàn bộ mặt bằng cho nhà đầu tư triển khai dự án, đảm bảo tiến độ đề ra.

Đến nay tất cả 19/19 gói thầu đều đã triển khai thực hiện, các gói thầu chính như: Thi công xây dựng hầm Cổ Mã (Khánh Hòa) đạt 54,84% khối lượng, đã làm Lễ thông hầm vào ngày 22/11/2014; Phần Hầm Đèo Cả đã xây dựng cơ bản xong phần cửa hầm phía Bắc và phía Nam, đang triển khai thi công khoan hầm cả 02 phía Bắc, Nam, khối lượng đạt khoảng 3,7%; cơ bản thi công hoàn thành đường công vụ phía Bắc.

- Về triển khai thực hiện tiểu dự án 02 (Đường từ Nam cầu Hùng Vương đến KCN Hòa Hiệp 1): Dự án này, có tổng mức đầu tư là 432 tỷ đồng. Đến nay, đã hoàn thành nền đường, móng cấp phối đá dăm lớp dưới, hệ thống thoát nước, mặt đường bê tông xi măng, kè biển gia cố nền đường, tường rào, mặt đường bê tông nhựa từ Km2-Km6; riêng cầu vượt kênh đã thi công hoàn thành, đang hoàn thiện lề đường dẫn vào cầu và thảm bê tông nhựa mặt cầu. Đang tập trung thực hiện các hạng mục: móng cấp phối đá dăm lớp trên (đạt 93% khối lượng), mặt đường bê tông nhựa lớp dưới (đạt 58,9% khối lượng).

Khối lượng thực hiện đến nay, là 290,5 tỷ đồng đạt 67% khối lượng công trình, đã giải ngân là 234,5 tỷ đồng, còn nợ khối lượng các nhà thầu 56 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2014 bố trí cho dự án này là 63 tỷ đồng (trong đó tạm ứng ngân sách Trung ương năm 2015 là 35 tỷ đồng). Giao Sở Giao thông Vận tải đôn đốc, chỉ đạo các nhà thầu, đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ công trình theo kế hoạch đã đề ra. Phấn đấu hoàn thành mặt đường bê tông nhựa bên trái tuyến từ Km6-Km10, trước Tết Nguyên đán, để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân.

- Về triển khai thực hiện tiểu dự án 03 (Đường từ KCN Hoà Hiệp 1 đến Bắc cầu Đà Nông): Dự án này, với tổng mức đầu tư 222,7 tỷ đồng. Đến nay, đã hoàn thành nền đường, hệ thống thoát nước, móng cấp phối đá dăm lớp dưới; đang tập trung thực hiện các hạng mục: móng cấp phối đá dăm lớp trên (đạt 67,05%), mặt đường bê tông nhựa (đạt 47,4%).

Khối lượng thực hiện đến nay, là 157,4 tỷ đồng đạt 71% khối lượng công trình, đã giải ngân là 145 tỷ đồng, còn nợ khối lượng các nhà thầu 12,4 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2014 bố trí cho dự án này là 35 tỷ đồng (trong đó tạm ứng ngân sách Trung ương năm 2015 là 20 tỷ đồng). Phấn đấu đến cuối năm 2014, hoàn thành bê tông nhựa mặt đường bên phải tuyến, để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân.

- Về tình hình khắc phục sạt lở khu vực Xóm Rớ, phường Phú Đông, thành phố Tuy Hòa:

Tháng 8/2013, trước tình hình xâm thực ngày càng gia tăng bởi triều cường vào khu vực xóm Rớ; UBND Tỉnh đã có thông báo xử lý khẩn cấp sạt lở ven bờ biển khu vực xóm Rớ và giao Ban quản lý công trình thủy lợi và phòng chống thiên tai làm chủ đầu tư. Tỉnh đã trích ngân sách cho gia cố tạm thời bằng rọ đá đoạn 690m xung yếu nhất, với kinh phí khoảng 12 tỷ đồng và hiện đang tiếp tục chỉ đạo khắc phục với kinh phí khoảng 2,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc khắc phục này còn mang tính tạm thời, hiện nay đã ban bố tình trạng khẩn cấp về tình hình sạt lở và triển khai lập dự án kiên cố.

 Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương thực hiện theo Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển ban hành kèm Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ, với chiều dài tuyến kè khoảng 1.200m, tổng mức đầu tư khoảng 185 tỷ đồng. Hiện nay, dự án đã được bố trí 950 nghìn USD từ nguồn vốn viện trợ của Cô-oét và 10 tỷ đồng từ nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ. Giao Ban quản lý dự án Thủy lợi và Phòng chống thiên tai tỉnh, khẩn trương hoàn tất các thủ tục liên quan để khởi công dự án vào đầu năm 2015. Giao UBND thành phố Tuy Hòa lập dự án tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng của khu vực này; kinh phí thực hiện từ nguồn vốn đầu tư dự án khắc phục sạt lở khu vực Xóm Rớ.

- Dự án Hệ thống thoát lũ, bảo vệ dân cư dọc Sông Ba, các huyện Tây Hòa, Đông Hòa, Phú Hòa và thành phố Tuy Hòa:

Dự án có tổng mức đầu tư 350 tỷ đồng, từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ. Thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ, UBND Tỉnh đã xác định điểm dừng kỹ thuật, báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận cho phép tiếp tục đầu tư và bố trí vốn để đầu tư hoàn chỉnh tiểu dự án Kè Lạc Mỹ (Tây Hòa) và Kè Soi Làng (Phú Hòa).

Để tiếp tục triển khai các đoạn xung yếu, nhằm ổn định đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân; UBND Tỉnh đã có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét bổ sung vốn Trái phiếu Chính phủ cho dự án và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung vốn giai đoạn 2014-2016 cho dự án là 216,6 tỷ đồng, trong đó năm 2014 là 100 tỷ đồng. UBND Tỉnh đã giao Ban QLDA Thủy lợi và PCTT Tỉnh tập trung hoàn chỉnh hồ sơ các tiểu dự án kè Thạch Bàn, xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa và kè Phú Lộc, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa. Các dự án còn lại sẽ tiếp tục xin vốn trái phiếu Chính phủ bố trí các năm sau để đầu tư xây dựng.

10. Về nợ công:

10.1. Về nợ xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách và vốn trái phiếu Chính phủ: Tính đến ngày 30/9/2014, là 295,1 tỷ đồng, trong đó:

- Vốn ngân sách ngân sách Nhà nước là 195,8 tỷ đồng (vốn ngân sách Trung ương là 60,5 tỷ đồng; Vốn ngân sách khối tỉnh là 65,1 tỷ đồng, vốn ngân sách khối huyện là 70,1 tỷ đồng), trong đó khối lượng nợ các dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng và đã được phê duyệt quyết toán là 44,7 tỷ đồng; các dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng, chưa phê duyệt quyết toán là 46,7 tỷ đồng và các dự án đang triển khai thực hiện là 104,4 tỷ đồng.

- Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ là 96,3 tỷ đồng, trong đó dự kiến bố trí kế hoạch năm 2015 và 2016 giải quyết hết số nợ khối lượng XDCB.

* Hướng giải quyết nợ khối lượng XDCB:

- Phần nợ đọng của các dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng đã phê duyệt quyết toán: Khối lượng nợ đọng này được các cấp ngân sách bố trí trả nợ trong quá trình điều chỉnh kế hoạch vốn năm 2014 và dự kiến bố trí trả nợ trong kế hoạch năm 2015.

- Nợ khối lượng của các các dự án hoàn thành, đưa vào sử dụng chưa phê duyệt quyết toán: Khối lượng nợ sẽ được tiếp tục rà soát, bố trí trả nợ theo thẩm quyền các cấp ngân sách và sẽ bố trí trả dứt điểm sau khi dự án, công trình được phê duyệt quyết toán theo đúng quy định.

- Đối với các dự án chủ đầu tư tự ý điều chỉnh tổng mức đầu tư và triển khai thực hiện vượt kế hoạch vốn được giao và không đúng nguồn vốn, tổng mức vốn đã được thẩm định với cấp trên, chủ đầu tư chịu trách nhiệm về khối lượng nợ phát sinh.

- Nợ khối lượng của các dự án đang triển khai thực hiện: Bố trí trả nợ trong kế hoạch năm 2015 và kế hoạch 2016-2020.

10.2. Về nợ vốn nhàn rỗi Ngân sách Trung ương và nợ vay theo khoản 3 Điều 8 Luật NSNN:

+ Nợ tạm ứng ngân sách Trung ương (Vốn nhàn rỗi Kho bạc Nhà nước) Cầu Hùng Vương là 200 tỷ đồng.

+ Nợ Vay kiên cố hóa Giao thông nông thôn, kênh mương, làng nghề là 255 tỷ đồng (chưa đến hạn trả).

* Hướng xử lý:

- Đối với nợ tạm ứng vốn nhàn rỗi ngân sách Trung ương 200 tỷ đồng: Hiện nay, quỹ đất thuộc dự án Nam thành phố Tuy Hòa chưa hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng để bán đấu giá, do đó UBND Tỉnh tiếp tục làm việc với Bộ Tài chính để xin giãn thời gian trả tạm ứng.

- Nợ Vay kiên cố hóa Giao thông nông thôn, kênh mương, làng nghề là 255 tỷ đồng: UBND tỉnh sẽ bố trí trả nợ hàng năm từ nguồn vốn XDCB tập trung khi đến hạn.

11. Về chi đầu tư xây dựng cơ bản năm 2015:

Vấn đề này, UBND Tỉnh đã có Báo cáo số 5228/UBND-KT ngày 09/12/2014 về giải trình việc phân bổ vốn đầu tư phát triển trong cân đối ngân sách kế hoạch năm 2015, gửi các đại biểu dự họp. Ở đây tôi thông tin thêm như sau:

Theo Nghị quyết số 91/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013 của HĐND Tỉnh quy định việc phân bổ vốn đầu tư trong cân đối ngân sách giữa Tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố như sau: “Nguồn vốn đầu tư trong cân đối ngân sách được phân bổ cho các huyện, thị xã, thành phố chiếm 50-55% tổng nguồn vốn đầu tư trong cân đối ngân sách Trung ương cân đối cho Tỉnh sau khi trừ khoản trả nợ vay các Chương trình phát triển đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương, trạm bơm điện phục vụ sản xuất, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn. Áp dụng cho năm ngân sách từ 2014 và 2015”.

Trong năm 2015, tỉnh phải cân đối ngân sách để trả nợ vốn vay tín dụng ưu đãi từ Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Phú Yên đến hạn là 69 tỷ đồng, tăng 30 tỷ đồng so với năm 2014, nên phần còn lại phân bổ cho các địa phương thấp so năm trước, mong các đại biểu chia sẻ khó khăn chung của Tỉnh.

12. Về tình hình an ninh trật tự ở nông thôn.

Trong thời gian qua, tình hình an ninh trật ở nông thôn diễn biến tương đối phức tạp, số vụ phạm pháp hình sự có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tình hình trộm cắp tài sản, gây gỗ đánh nhau trong lứa tuổi thanh thiếu niên, gây hoan mang trong nhân dân.

Yêu cầu Giám đốc công an tỉnh chỉ đạo các lực lượng tăng cường tuần tra, kiểm soát xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đề nghị các Hội, đoàn thể Mặt trận, Hội cực chiến binh, thanh niên, phụ nữ ở các cấp…tăng cường tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên của mình chấp hành tốt các quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn, để bà con yên tâm sinh hoạt, sản xuất.

13. Về báo cáo trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri của một số Sở, ngành chưa rõ ràng, chưa đầy đủ trách nhiệm: UBND tỉnh tiếp thu để chỉ đạo khắc phục. Trước mắt, yêu cầu lãnh đạo các Sở gồm: Xây dựng, Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Y tế, Tài nguyên và Môi trường phải khẩn trương hoàn chỉnh lại văn bản trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri của đơn vị, gửi Thường trực HĐND tỉnh để gửi cho các đại biểu kịp thời tiếp xúc cử tri.

Trên đây, tôi đã làm rõ thêm một số vấn đề mà cử tri, đại biểu HĐND Tỉnh quan tâm liên quan đến công tác chỉ đạo, điều hành và trách nhiệm của UBND Tỉnh. Với trách nhiệm của mình, UBND Tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo, điều hành với tinh thần quyết tâm cao nhất để hoàn thành vượt mức kế hoạch năm 2015. Đồng thời, đề nghị Tỉnh ủy quan tâm lãnh đạo, HĐND Tỉnh, Đoàn đại biểu QH giám sát và tất cả các ngành, các cấp chung sức, đồng lòng cùng nhau tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra.

Nhân dịp năm mới Ất Mùi 2015 sắp đến, thay mặt UBND Tỉnh tôi xin chúc tất cả bà con cử tri, các vị đại biểu HĐND tỉnh hạnh phúc, an khang và thịnh vượng.

Xin trân trọng cảm ơn./.

 

BBT

THÔNG TIN CHO NHÀ ĐẦU TƯ

Thống kê truy cập

Đang truy cập:

Hôm nay:

Tháng hiện tại:

Tổng:

Thư viện ảnh

Liên kết các website